6/1966, Chiến tranh là tang thương, tàn khốc, nó không chừa ai, tôi đã tận mắt chứng kiến hình ảnh về một đứa trẻ miền nam…
Tại xóm Cồn (Hải Lăng – Quảng Trị). Hôm đó chúng tôi trú quân ở nhà chị Tuyết. Lần nào về đơn vị chúng tôi đều trú quân ở xóm Cồn. Nhà chị Tuyết chúng tôi đã quen rồi. Chúng tôi ăn cơm, chuyện trò như người em trong gia đình.
Nhà chị có ba người, mẹ chồng chị, chị Tuyết và đứa con gần một tuổi. Bà mẹ gần sau mươi tuổi, một đi lính cộng hòa, một đang đi học ở Quảng Trị. Người lính cộng hòa là chồng chị Tuyết. Chị về nhà chồng đã hai năm với ngôi nhà xây lợp bằng tôn, bên trong nhà bày biện đồ thờ phụng nhìn cổ kính lắm. Trên cột nhà ở gian giữa có treo mấy cái ảnh, trong đó có ảnh chồng chị, bộ quân phục của lính cộng hòa, đội mũ đồng đứng giữa bục nhà chân cao chân thấp. Còn một chiếc ảnh thì ngồi trên mô tô. Đứa em mang áo sờ vin trắng, đôi kính trắng. Nhiều lần nói chuyện chị tỏ ra rất buồn và than phiền về người chồng của chị, có vẻ như chị đã nhỡ bước. Chúng tôi chỉ biết động viên chị thôi.
Ngày hôm đó, đúng mười giờ, mẹ đi chợ về báo có địch ở chợ rất đông. Chợ ấy chỉ cách chúng tôi chừng năm trăm mét. Một lúc sau tôi được lệnh ra công sự, đại đội cho biết, địch có một tiểu đoàn đang tiến vào thôn. Tụi nó biết chúng tôi ở trong này nên tiến vào rất dè dặt. Đúng mười hai giờ năm phút, loạt súng đầu tiên đã nổ. Tiếng súng của hai bên rền vang. Sau đợt tấn công, địch để lại mười hai xác. Một lúc thì pháo từ xa trút xuống trận địa. Xong pháo lại bom. Mấy chiếc máy bay cứ quần rầm rầm trên bầu trời. Sau mấy đợt tấn công nữa, tầm năm giờ chiều mới thôi, tụi nó rút ra xa. Bao nhiêu trung liên và Cabin chúng để lại bên xác của mấy thằng chết. Trong xóm không còn một cái nhà nào, nhà chị Tuyết cũng bị đổ nát. Mấy cái nhà tranh thì cháy hết từ lâu, chỉ còn lại than hồng và khói. Cây cối không còn cây nào cao quá hai mét. Tám giờ tối chúng tôi được lệnh rút quân. Chúng tôi lần lượt men theo con đường mòn của xóm, những cành tre đổ kềnh chắn lối. chúng tôi đi rất chậm. Ánh lửa sáng quá nên phải tránh để địch khỏi thấy. Thỉnh thoảng lại có một loạt pháo. Đến đoạn đầu xóm bỗng có tiếng khóc khàn khàn của đứa trẻ bên cạnh đường. Tôi bước lại bên chiếc hố cá nhân, một người mẹ đang nằm sóng soài, trên ngực bê bết máu. Đứa trẻ khóc không ra tiếng, chỉ nghe tiếng khàn khàn. Trên mặt em một đường máu đã khô. Tóc em cháy xém một đám. Em bị dính máu của mẹ.Tôi vội bồng đứa bé vào lòng. Một lúc thì mấy đồng chí đưa võng cáng mẹ của em đi. Cổ khàn, môi khô, tôi biết em khát nước. Tôi đi tìm nước cho em, trong bi đông còn một tí nhỏ. Em uống hết nhưng miệng không rời bi đông. Chúng tôi đi về xóm Sông, đứa bé nằm trên tay tôi không khóc. Ai biết được suy nghĩ của chúng tôi lúc này không. Có phải đứa bé ấy cầm súng bắn vào lính cộng hòa không? Hay người mẹ đó cầm súng bắn vào lính cộng hòa?
Chúng tôi đến nơi, bà con ra đón. Tôi đến bệnh viện cáng người mẹ trẻ đó vào. Ở đây có mấy cái đèn Hoa Kỳ rọi mờ mờ. Một xác chết bê bết máu. Chao ôi, chị Tuyết chết rồi. Chị Tuyết chết rồi! Đứa bé tôi ôm là con chị Tuyết, nhưng đêm tối tôi không biết. Em ơi, em có biết cha em đang cầm súng bắn vào gia đình, bà con thôn xóm em đấy. Em ơi, mẹ em đâu rồi?! Em không còn mẹ nữa đâu.





